KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC TUÂN THỦ DÙNG THUỐC ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN QUẢNG NAM, NĂM 2025
Nhóm tác giả: BSCKII. Chrưm Thanh Vòm, ThS Lý Chí Long, Cn. Nguyễn Kiều Phương
- MỞ ĐẦU
Tâm thần phân liệt (TTPL) là một bệnh lý loạn thần nặng, có diễn tiến mạn tính và phổ biến trên toàn thế giới với tỷ lệ mắc khoảng 0,3% – 0,5% dân số. tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ này dao động từ 0,52% đến 0,62%. Do đặc thù bệnh lý thường xuyên tái phát và gây suy giảm chức năng xã hội nghiêm trọng, việc điều trị duy trì bằng thuốc chống loạn thần là chỉ định bắt buộc.
Sự tuân thủ dùng thuốc (Medication Adherence) được xem là yếu tố tiên quyết quyết định hiệu quả điều trị. Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng việc tự ý ngưng thuốc hoặc dùng thuốc không đúng liều lượng làm tăng tỷ lệ tái phát lên đến 90% trong vòng 2 năm. Tại Việt Nam, mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng đang được đẩy mạnh, tuy nhiên thực trạng bệnh nhân điều trị ngoại trú không tuân thủ phác đồ vẫn còn là một thách thức lớn. Tại địa bàn tỉnh Quảng Nam, các dữ liệu khoa học về vấn đề này còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp bằng chứng thực tế về thực trạng tuân thủ và các rào cản liên quan, từ đó đề xuất giải pháp cải thiện chất lượng quản lý bệnh nhân tại địa phương.
- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 258 bệnh nhân được chẩn đoán xác định Tâm thần phân liệt theo tiêu chuẩn ICD-10 (mã bệnh F20), đang quản lý và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Tâm thần Quảng Nam trong năm 2025.
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu, có hồ sơ theo dõi ngoại trú rõ ràng.
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân trong giai đoạn cấp tính nặng không thể giao tiếp, hoặc không có người thân hỗ trợ cung cấp thông tin đối chứng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Công cụ thu thập dữ liệu: Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc gồm 3 phần: (1) Đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng; (2) Các yếu tố về môi trường sống và sự hỗ trợ; (3) Thang đo tuân thủ dùng thuốc MMAS-8 (8-item Morisky Medication Adherence Scale) – đây là công cụ có độ tin cậy cao được chuẩn hóa quốc tế.
Đánh giá sự tuân thủ: Tuân thủ (Đạt): Tổng điểm MMAS-8 từ 6 đến 8 điểm (bao gồm tuân thủ tốt và trung bình). Không tuân thủ: Tổng điểm MMAS-8 dưới 6 điểm.
Xử lý số liệu: Dữ liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0. Sử dụng kiểm định Chi-square để xác định các mối liên quan với ngưỡng ý nghĩa p < 0,05.
- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 40,91 ± 11,4. Nhóm tuổi lao động từ 18-40 chiếm tỷ lệ cao nhất (50%). Về giới tính, nam giới chiếm ưu thế với 60,1%. Đa số bệnh nhân sinh sống tại khu vực nông thôn (83%), có trình độ học vấn thấp và tỷ lệ không có việc làm ổn định chiếm đa số. Về tình trạng hôn nhân, 44% bệnh nhân ở trạng thái độc thân hoặc chưa kết hôn.
3.2. Thực trạng tuân thủ dùng thuốc
Kết quả đánh giá qua thang đo MMAS-8 cho thấy:
Tỷ lệ bệnh nhân Có tuân thủ dùng thuốc đạt 43,4% (tương ứng 112 bệnh nhân).
Tỷ lệ bệnh nhân Không tuân thủ chiếm 56,6% (tương ứng 146 bệnh nhân).
Ghi nhận cho thấy số lượng bệnh nhân đạt mức độ tuân thủ tuyệt đối (8 điểm) là rất thấp, phần lớn nằm ở mức tuân thủ trung bình.
3.3. Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ (Phân tích đơn biến)
Nghiên cứu ghi nhận nhiều yếu tố có mối liên quan mật thiết đến việc thực hiện đúng phác đồ điều trị:
Giới tính: Nam giới có tỷ lệ tuân thủ (50%) cao hơn có ý nghĩa so với nữ giới (33,3%) với p = 0,01.
Sử dụng chất kích thích: Nhóm bệnh nhân không sử dụng rượu, bia, thuốc lá có tỷ lệ tuân thủ là 48,8%, trong khi nhóm có sử dụng chỉ đạt 34,7% (p = 0,034).
Kiến thức về bệnh: Đây là yếu tố then chốt. Những bệnh nhân (hoặc người nhà) có kiến thức đúng về bệnh có tỷ lệ tuân thủ lên đến 88,6%, so với chỉ 25,5% ở nhóm thiếu kiến thức (p < 0,001).
Sự hỗ trợ của gia đình: 63,6% bệnh nhân được người thân quản lý thuốc và 63,2% được hỗ trợ đưa đi khám định kỳ. Nhóm được gia đình đưa đi khám hàng tháng có tỷ lệ tuân thủ (50,3%) cao hơn rõ rệt so với nhóm tự đi khám (31,6%) với p = 0,006.
Sự hài lòng với dịch vụ y tế: Những bệnh nhân hài lòng với công tác khám và cấp phát thuốc có tỷ lệ tuân thủ đạt 57,1%, trong khi nhóm không hài lòng có tỷ lệ tuân thủ bằng 0% (p = 0,000).
- BÀN LUẬN
Tỷ lệ tuân thủ 43,4% trong nghiên cứu này phản ánh một thực trạng đáng lo ngại nhưng tương đồng với các kết quả tại các khu vực đang phát triển, nơi nguồn lực y tế còn hạn chế.
Sự liên quan giữa Kiến thức và Sự tuân thủ (p < 0,001) cho thấy khi bệnh nhân và gia đình hiểu rõ bản chất mạn tính của TTPL, họ có xu hướng duy trì thuốc tốt hơn để tránh tái phát. Đặc biệt, nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của Gia đình (p = 0,006). Tại Quảng Nam, với 83% bệnh nhân ở nông thôn, sự hỗ trợ từ người thân không chỉ là nhắc nhở uống thuốc mà còn là hỗ trợ kinh tế và di chuyển.
Bên cạnh đó, mối liên quan giữa Sự hài lòng với dịch vụ y tế (p = 0,000) và sự tuân thủ cho thấy thái độ của nhân viên y tế và quy trình cấp phát thuốc miễn phí đóng vai trò quan trọng trong việc giữ chân bệnh nhân với liệu trình điều trị. Việc sử dụng các chất kích thích làm trầm trọng hơn các triệu chứng và làm bệnh nhân quên hoặc bỏ qua việc dùng thuốc, điều này đã được chứng minh qua số liệu thực tế (p = 0,034).
- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ không tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân TTPL tại Bệnh viện Tâm thần Quảng Nam năm 2025 còn cao (56,6%). Các yếu tố liên quan trực tiếp bao gồm: Giới tính nam, không sử dụng chất kích thích, có kiến thức tốt về bệnh, sự hỗ trợ tích cực từ gia đình và sự hài lòng với dịch vụ chăm sóc tại bệnh viện.
5.2. Kiến nghị
Đối với Bệnh viện: Cần đẩy mạnh hoạt động giáo dục sức khỏe, tư vấn trực tiếp cho người nhà bệnh nhân về tầm quan trọng của việc dùng thuốc đúng liều, đủ thời gian. Cải thiện quy trình khám và cấp phát thuốc để tăng sự hài lòng của người dân.
Đối với Cộng đồng: Tăng cường vai trò của mạng lưới y tế cơ sở và các tổ chức đoàn thể địa phương trong việc hỗ trợ các gia đình có người bệnh tâm thần, đặc biệt là nhóm bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn tại vùng nông thôn.
Tài liệu tham khảo:
- Lê Thị Châu An và Trần Thị Thủy Cúc (2024), Tỉ lệ tuân thủ điều trị bằng thuốc và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế quận Tân Bình năm 2023, Tạp chí Y Dược Thực hành 175, (37), tr. 9-9.
- Ngô Văn Đức (2023), Nghiên cứu tình hình tái phát và một số yếu tố liên quan đến tái phát trên bệnh nhân tâm thần phân liệt tại tỉnh Vĩnh Long năm 2022-2023, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, (61), tr. 71-77.
- Nguyễn Văn Siêm (2007), Nghiên cứu dịch tễ lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng, Trường đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
- Bộ Y tế (2020), Quyết định số 2058/QĐ-BYT ngày 14 tháng 5 năm 2020 về việc Ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh tâm thần thường gặp, Hà Nội.
- Adugnaw Adane, Diborah Zerihun, Adisu Warkaw, Samuel Misganaw, và Solomon Mulualem (2024), Medication Non-adherence and Associated Factors Among Patients with Mental Illness at St. Amanuel Specialized Psychiatric Hospital, Addis Ababa, Ethiopia; A Cross Sectional Study.
- Melisa Intan Barliana, Dwi Aulia Ramdini, Nadiya Nurul Afifah, Sofa Dewi Alfian, và Sri Adi Sumiwi (2023), Investigating the Effect of Adherence to Antipsychotic Therapy on the Length of Stay and Number of Hospitalizations in Patients with Schizophrenia–A Descriptive Analysis, Patient preference and adherence, tr. 2737-2747.
- Peter F Buckley, Donna A Wirshing, Prameet Bhushan, Joseph M Pierre, Seth A Resnick, và William C Wirshing (2007), Lack of insight in schizophrenia: impact on treatment adherence, CNS drugs, số 21, tr. 129-
Từ khóa: Tuân thủ dùng thuốc, Tâm thần phân liệt, Bệnh viện Tâm thần Quảng Nam, MMAS-8
ThS. Lý Chí Long

